Tóm tắt Những điểm mới của Nghị định số 299/2026/NĐ-CP của Chính phủ Quy định về tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập và gợi ý Chương trình hành động của Đại học Kinh tế Quốc dân (Ban hành ngày 28/7/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày ký)
31/07/2026 2026-07-31 3:52Tóm tắt Những điểm mới của Nghị định số 299/2026/NĐ-CP của Chính phủ Quy định về tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập và gợi ý Chương trình hành động của Đại học Kinh tế Quốc dân (Ban hành ngày 28/7/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày ký)
Tóm tắt Những điểm mới của Nghị định số 299/2026/NĐ-CP của Chính phủ Quy định về tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập và gợi ý Chương trình hành động của Đại học Kinh tế Quốc dân (Ban hành ngày 28/7/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày ký)
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHỊ ĐỊNH
Nghị định số 299/2026/NĐ-CP ngày 28/7/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập (gọi tắt là Nghị định 299), có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Nghị định thay thế toàn bộ Nghị định số 120/2020/NĐ-CP và Nghị định số 283/2025/NĐ-CP, đồng thời tạo lập khuôn khổ pháp lý thống nhất về thành lập, tổ chức lại, giải thể, chuyển giao, phân loại, xếp hạng và thực hiện quyền tự chủ về tổ chức bộ máy của ĐVSNCL trong giai đoạn phát triển mới.
Nghị định gồm 04 Chương, 31 Điều, quy định toàn diện các nội dung về: thành lập, tổ chức lại, giải thể và chuyển giao đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL); phân loại, xếp hạng ĐVSNCL; thực hiện quyền tự chủ về tổ chức bộ máy; đồng thời xác định rõ trình tự, thủ tục, điều kiện, thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình tổ chức và quản lý ĐVSNCL.
Việc ban hành Nghị định nhằm cụ thể hóa Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 và Luật Viên chức năm 2025, đồng thời tiếp tục triển khai chủ trương của Đảng và Nhà nước về đổi mới tổ chức và hoạt động của ĐVSNCL, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ sự nghiệp công, sử dụng hiệu quả nguồn lực và tăng cường năng lực quản trị khu vực sự nghiệp công.
Điểm nổi bật của Nghị định là chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang quản trị hiện đại, lấy quyền tự chủ, tinh gọn tổ chức bộ máy, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình và quản trị dựa trên kết quả, hiệu quả hoạt động làm định hướng xuyên suốt.
Đối với Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU), Nghị định có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì Nhà trường là ĐVSNCL trong lĩnh vực giáo dục đại học đang thực hiện cơ chế tự chủ. Những quy định mới sẽ tác động trực tiếp đến việc hoàn thiện Đề án tự chủ giai đoạn 2026-2030, kiện toàn tổ chức bộ máy, sắp xếp các đơn vị trực thuộc, quản lý vị trí việc làm, cơ cấu đội ngũ lãnh đạo, tăng cường phân cấp quản trị, nâng cao chất lượng đào tạo và hoàn thiện mô hình quản trị đại học theo hướng hiện đại, minh bạch, phù hợp với Luật Giáo dục đại học cũng như các chuẩn kiểm định chất lượng quốc tế như FIBAA và AUN-QA.
II. PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH VÀ ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG
Nghị định 299 quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể, chuyển giao, phân loại, xếp hạng và thực hiện quyền tự chủ về tổ chức bộ máy của ĐVSNCL, qua đó thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng cung ứng dịch vụ sự nghiệp công.
1. Đối tượng áp dụng
Nghị định áp dụng đối với ĐVSNCL, bao gồm:
– ĐVSNCL thuộc Bộ và cơ quan ngang Bộ;
– ĐVSNCL thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
– ĐVSNCL thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã.
Đồng thời, Nghị định cũng áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc thành lập, tổ chức lại, giải thể, chuyển giao, phân loại, xếp hạng và quản lý tổ chức bộ máy của ĐVSNCL theo quy định của pháp luật.
2. Phạm vi không áp dụng
Nghị định không áp dụng đối với ĐVSNCL thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an. Việc tổ chức và hoạt động của các đơn vị này được thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành, phù hợp với yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh và tổ chức lực lượng. Tuy nhiên, dù không thuộc đối tượng áp dụng mặc nhiên, nhưng Điều 30 của Nghị định vẫn cho phép Bộ trưởng hai Bộ này quyết định việc áp dụng các quy định của Nghị định 299 đối với các đơn vị thuộc phạm vi quản lý nếu thấy phù hợp
3. Ý nghĩa đối với NEU
Đối với NEU, Nghị định 299 có ý nghĩa quan trọng vì Nhà trường là đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục đại học đang thực hiện quyền tự chủ theo Luật Giáo dục đại học. Nghị định tạo cơ sở pháp lý để NEU tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy, thực hiện quyền tự chủ và nâng cao hiệu quả quản trị theo Luật Giáo dục đại học.
III. NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ NỘI DUNG CỐT LÕI CỦA NGHỊ ĐỊNH
Nghị định 299 có nhiều điểm đổi mới quan trọng về tổ chức và hoạt động của ĐVSNCL. Các quy định mới được thiết kế theo định hướng tăng cường quyền tự chủ, tinh gọn tổ chức bộ máy, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao trách nhiệm giải trình và quản trị dựa trên hiệu quả. Có thể khái quát thành 07 nhóm nội dung trọng tâm sau:
1. Đổi mới mô hình tổ chức
Đây là nhóm nội dung có ý nghĩa nền tảng, thể hiện sự chuyển biến từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị hiện đại, lấy hiệu quả hoạt động và chất lượng cung cấp dịch vụ công làm trung tâm.
a) Xác định lại chức năng của ĐVSNCL
Lần đầu tiên, Nghị định phân định rõ ĐVSNCL theo hai nhóm chức năng cơ bản:
(i) Đơn vị cung cấp dịch vụ sự nghiệp công phục vụ xã hội, bao gồm các lĩnh vực: Giáo dục và đào tạo; Y tế; Khoa học và công nghệ; Văn hóa; Thể dục, thể thao; Các dịch vụ sự nghiệp công khác theo quy định của pháp luật.
(ii) Đơn vị phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước, thực hiện các nhiệm vụ như: Nghiên cứu; Xây dựng chính sách; Tham mưu; Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu; Hỗ trợ hoạt động quản lý nhà nước.
Việc phân định rõ chức năng là cơ sở để xác định mô hình tổ chức, cơ chế quản trị và mức độ quyền tự chủ phù hợp đối với từng loại hình ĐVSNCL.
b) Khuyến khích mô hình đơn vị đa ngành, đa lĩnh vực
Điểm mới nổi bật là Nghị định cho phép một ĐVSNCL có thể thực hiện nhiều ngành, nhiều lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công. Quy định này tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển các mô hình tổ chức linh hoạt, đặc biệt phù hợp với các cơ sở giáo dục đại học đa ngành như NEU.
2. Chuẩn hóa tiêu chí phân loại
Lần đầu tiên, Nghị định quy định thống nhất việc phân loại ĐVSNCL theo 04 nhóm tiêu chí, tạo cơ sở cho công tác quản lý, phân cấp và thực hiện quyền tự chủ.
a) Theo vị trí pháp lý
– ĐVSNCL thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ;
– ĐVSNCL thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
– ĐVSNCL thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã.
b) Theo ngành, lĩnh vực
Bao gồm các lĩnh vực như: Giáo dục và đào tạo; Y tế; Khoa học và công nghệ; Văn hóa; Thể dục, thể thao; Đơn vị đa ngành, đa lĩnh vực.
c) Theo tính chất nhiệm vụ
– Đơn vị cung cấp dịch vụ sự nghiệp công phục vụ xã hội;
– Đơn vị phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước.
d) Theo mức độ tự chủ tài chính
Gồm 04 nhóm:
– Nhóm 1: Tự bảo đảm chi đầu tư và chi thường xuyên;
– Nhóm 2: Tự bảo đảm chi thường xuyên;
– Nhóm 3: Tự bảo đảm một phần chi thường xuyên;
– Nhóm 4: Ngân sách nhà nước bảo đảm.
Đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập, nếu Luật Giáo dục đại học và pháp luật chuyên ngành có quy định khác thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
3. Hoàn thiện điều kiện thành lập
Nghị định quy định chặt chẽ hơn về việc thành lập, tổ chức lại, giải thể và chuyển giao ĐVSNCL nhằm bảo đảm hiệu quả hoạt động và sử dụng hợp lý nguồn lực công.
a) Điều kiện thành lập mới
ĐVSNCL chỉ được thành lập khi đáp ứng đồng thời các điều kiện:
– Phù hợp quy hoạch mạng lưới;
– Phù hợp quy định của pháp luật chuyên ngành;
– Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ;
– Có tối thiểu 15 người làm việc (trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành quy định khác);
– Bảo đảm điều kiện về cơ sở vật chất và nguồn lực hoạt động.
Đối với đơn vị tự bảo đảm chi đầu tư và chi thường xuyên, số lượng người làm việc được xác định theo Đề án tự chủ đã được phê duyệt.
b) Thành lập mới gắn với tự chủ tài chính
Điểm mới nổi bật là ĐVSNCL thành lập mới phải tự bảo đảm chi thường xuyên trở lên, trừ trường hợp cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Quy định này thể hiện chủ trương giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước và nâng cao trách nhiệm tài chính của đơn vị.
c) Tổ chức lại và giải thể
Việc sáp nhập, hợp nhất hoặc tổ chức lại không được làm tăng số lượng người hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
(i) ĐVSNCL phải tổ chức lại khi:
– Thay đổi chức năng, nhiệm vụ;
– Không còn đáp ứng điều kiện thành lập;
– Không đủ quy mô hoạt động;
– Không đạt mức độ tự chủ tài chính theo yêu cầu;
– Theo quy hoạch mạng lưới được phê duyệt.
(ii) ĐVSNCL bị giải thể khi:
– Không còn chức năng, nhiệm vụ;
– Không đủ điều kiện hoạt động;
– 03 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ;
– Theo quy hoạch mạng lưới.
Quy định “03 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ” là điểm mới nổi bật, tạo động lực nâng cao chất lượng quản trị và hiệu quả hoạt động.
d) Quy định mới về chuyển giao
Lần đầu tiên, Nghị định quy định đầy đủ việc chuyển giao nguyên trạng ĐVSNCL, bao gồm: Hồ sơ pháp lý; Phương án nhân sự; Tài sản, tài chính; Đất đai, cơ sở vật chất; Quyền và nghĩa vụ; Biên chế; Biên bản bàn giao.
4. Mở rộng quyền tự chủ
Đây là nhóm nội dung có tác động trực tiếp và sâu rộng đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện quyền tự chủ, trong đó có NEU.
Đối với đơn vị tự bảo đảm chi đầu tư và chi thường xuyên, Nghị định cho phép:
– Tự quyết định thành lập đơn vị trực thuộc;
– Tự quyết định tổ chức lại;
– Tự quyết định giải thể đơn vị trực thuộc;
trên cơ sở Đề án tự chủ hoặc Đề án thành lập đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Quy định này mở rộng đáng kể quyền tự chủ về tổ chức bộ máy, tạo điều kiện để các trường đại học chủ động sắp xếp cơ cấu tổ chức phù hợp với chiến lược phát triển và nhu cầu thực tiễn.
5. Chuẩn hóa tổ chức nội bộ
Nghị định thiết lập các tiêu chí thống nhất đối với việc thành lập phòng và bố trí cấp phó, góp phần chuẩn hóa cơ cấu tổ chức bên trong của ĐVSNCL.
a) Tiêu chí thành lập phòng
Một phòng thuộc ĐVSNCL phải:
– Phụ trách từ 02 mảng công việc trở lên;
– Có quy trình quản lý riêng;
– Có tối thiểu 07 người làm việc.
Đây là căn cứ quan trọng để rà soát, sắp xếp các phòng, ban theo hướng tinh gọn, hiệu quả.
b) Khung số lượng cấp phó
(i) Đối với đơn vị tự chủ (Nhóm 1 và Nhóm 2):
Số lượng cấp phó được xác định theo Đề án tự chủ hoặc Đề án thành lập.
(ii) Đối với đơn vị chưa tự chủ hoàn toàn:
– Đến 20 người làm việc: tối đa 02 cấp phó;
– Trên 20 người làm việc: tối đa 03 cấp phó.
(iii) Đối với phòng:
– Từ 07 đến 09 người: bố trí 01 Phó Trưởng phòng;
– Từ 10 người trở lên: bố trí không quá 02 Phó Trưởng phòng.
Nghị định đồng thời quy định lộ trình chuyển tiếp tối đa 05 năm để xử lý số lượng cấp phó dôi dư sau khi sắp xếp tổ chức.
6. Đổi mới Đề án tự chủ
Nghị định nâng Đề án tự chủ trở thành công cụ quản trị trung tâm của ĐVSNCL.
Theo đó, Đề án tự chủ phải thể hiện đầy đủ 05 nội dung cốt lõi:
– Mục tiêu phát triển;
– Tổ chức bộ máy;
– Nhân sự;
– Tài chính;
– Lộ trình nâng cao mức độ tự chủ trong 05 năm.
Đây là bước chuyển quan trọng từ tự chủ tài chính sang quyền tự chủ toàn diện, bao gồm cả quản trị tổ chức, nhân sự, tài chính và hoạt động, phù hợp với xu hướng quản trị đại học hiện đại.
7. Đổi mới cơ chế quản trị
Nghị định thiết lập cơ chế quản trị hiện đại thông qua việc gắn kết giữa xếp hạng, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch và chế độ báo cáo.
a) Đổi mới cơ chế xếp hạng
Việc xếp hạng ĐVSNCL được thực hiện theo chu kỳ 05 năm trên cơ sở các tiêu chí:
– Quy mô tổ chức;
– Chất lượng nguồn nhân lực;
– Cơ sở vật chất;
– Chuyển đổi số;
– Chất lượng dịch vụ;
– Mức độ hài lòng của người sử dụng dịch vụ;
– Hiệu quả tài chính;
– Mức độ tự chủ.
Lần đầu tiên, chuyển đổi số và mức độ hài lòng của người sử dụng dịch vụ được đưa vào hệ thống tiêu chí xếp hạng, phản ánh xu hướng quản trị công hiện đại.
b) Tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình
Nghị định yêu cầu các ĐVSNCL thực hiện đầy đủ công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình đối với cơ quan quản lý nhà nước, người sử dụng dịch vụ và các bên liên quan, góp phần nâng cao chất lượng quản trị và niềm tin của xã hội.
c) Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ
Các ĐVSNCL có trách nhiệm thực hiện chế độ thông tin, thống kê và báo cáo định kỳ hằng năm về tổ chức và hoạt động theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.
Việc kết hợp giữa xếp hạng, chuyển đổi số, mức độ hài lòng của người sử dụng dịch vụ, trách nhiệm giải trình và chế độ báo cáo đã hình thành một cơ chế quản trị hiện đại, chuyển mạnh từ quản lý theo đầu vào sang quản trị dựa trên kết quả, hiệu quả hoạt động và chất lượng dịch vụ công.
IV. QUY TRÌNH THÀNH LẬP, TỔ CHỨC LẠI, GIẢI THỂ VÀ CHUYỂN GIAO ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
Nghị định 299 quy định thống nhất về quy trình, hồ sơ, thời hạn giải quyết và thẩm quyền đối với việc thành lập, tổ chức lại, giải thể và chuyển giao ĐVSNCL. Các quy định này góp phần tăng cường tính công khai, minh bạch, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đồng thời bảo đảm việc sắp xếp tổ chức bộ máy được thực hiện đúng quy định và phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước.
1. Quy trình thực hiện
Việc thành lập, tổ chức lại, giải thể hoặc chuyển giao ĐVSNCL được thực hiện theo quy trình thống nhất, gồm các bước cơ bản:
– Xây dựng Đề án;
– Lập Tờ trình;
– Lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức có liên quan;
– Thẩm định hồ sơ, Đề án;
– Ban hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
– Tổ chức triển khai thực hiện.
Đối với chuyển giao nguyên trạng, Nghị định lần đầu tiên quy định tương đối đầy đủ các nội dung phải bàn giao, bao gồm hồ sơ pháp lý, nhân sự, tài sản, đất đai, quyền và nghĩa vụ, số lượng người làm việc (biên chế) và biên bản bàn giao, qua đó bảo đảm tính liên tục trong hoạt động và hạn chế phát sinh tranh chấp sau khi chuyển giao.
2. Thời hạn giải quyết
Để nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính, Nghị định quy định rõ thời hạn xử lý hồ sơ:
– Thẩm định hồ sơ: từ 10 đến 15 ngày làm việc;
– Ban hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền: không quá 25 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Việc quy định rõ thời hạn xử lý hồ sơ góp phần nâng cao trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền và cải cách thủ tục hành chính, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các ĐVSNCL trong quá trình tổ chức, sắp xếp và thực hiện quyền tự chủ.
3. Thẩm quyền quyết định
Nghị định phân định rõ thẩm quyền của từng cấp, từng cơ quan theo nguyên tắc phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình, cụ thể:
– Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về tổ chức ĐVSNCL trên phạm vi cả nước.
– Thủ tướng Chính phủ quyết định hoặc phân cấp quyết định đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
– Bộ Nội vụ chủ trì hướng dẫn, thẩm định và kiểm tra việc thực hiện các quy định về tổ chức bộ máy của ĐVSNCL.
– Bộ Tài chính hướng dẫn các nội dung liên quan đến cơ chế tài chính, quản lý tài sản công và bảo đảm nguồn lực hoạt động.
– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý ngành, lĩnh vực thực hiện thẩm quyền đối với ĐVSNCL thuộc phạm vi quản lý và hướng dẫn triển khai theo đặc thù từng ngành.
– Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện việc thành lập, tổ chức lại, giải thể, chuyển giao và quản lý ĐVSNCL theo phân cấp.
Việc phân định rõ thẩm quyền của các cơ quan góp phần khắc phục tình trạng chồng chéo trong quản lý, nâng cao tính chủ động của các cơ quan quản lý và ĐVSNCL, đồng thời bảo đảm quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy được thực hiện thống nhất, minh bạch và đúng quy định của pháp luật.
V. NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI VIÊN CHỨC VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG NEU
Việc ban hành Nghị định 299 không chỉ tác động đến mô hình tổ chức và cơ chế quản trị của ĐVSNCL mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý, sử dụng và phát triển đội ngũ viên chức, người lao động. Đối với NEU – cơ sở giáo dục đại học công lập đang thực hiện quyền tự chủ, việc triển khai Nghị định cần được thực hiện đồng bộ, bảo đảm vừa nâng cao hiệu quả quản trị, vừa giữ vững sự ổn định và phát triển đội ngũ.
1. Tiếp tục chuẩn hóa hệ thống vị trí việc làm
Một trong những tác động quan trọng của Nghị định là tiếp tục hoàn thiện và chuẩn hóa vị trí việc làm gắn với chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc và yêu cầu phát triển của Nhà trường.
Theo đó, NEU cần rà soát, cập nhật hệ thống vị trí việc làm, xác định rõ tiêu chuẩn năng lực, yêu cầu chuyên môn và trách nhiệm của từng vị trí; đồng thời bố trí, sử dụng, điều động và phát triển đội ngũ trên cơ sở nhu cầu thực tế và mục tiêu phát triển của từng đơn vị. Đây là nền tảng quan trọng để xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, tinh gọn và đáp ứng yêu cầu quản trị đại học hiện đại.
2. Đổi mới công tác đánh giá theo hiệu quả thực hiện nhiệm vụ
Nghị định tiếp tục khẳng định định hướng quản trị dựa trên kết quả và hiệu quả hoạt động, thay cho cách tiếp cận chủ yếu dựa trên đầu vào hoặc số lượng biên chế.
Việc đánh giá viên chức và người lao động sẽ ngày càng gắn với chất lượng, tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ; mức độ hoàn thành mục tiêu của đơn vị; tinh thần trách nhiệm và đóng góp đối với sự phát triển của Nhà trường. Cách tiếp cận này góp phần nâng cao năng suất lao động, khuyến khích đổi mới sáng tạo và tạo động lực phát triển đội ngũ theo năng lực, hiệu quả và trách nhiệm giải trình.
3. Quy hoạch và bố trí cấp phó theo Đề án tự chủ
Đối với các cơ sở giáo dục đại học thực hiện quyền tự chủ như NEU, việc quy hoạch và bố trí cấp phó được thực hiện theo Đề án tự chủ giai đoạn 2026-2030 hoặc Đề án thành lập đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Đại học cần rà soát số lượng cấp phó của các khoa, viện, phòng, trung tâm và các đơn vị trực thuộc, bảo đảm phù hợp với quy mô tổ chức, khối lượng công việc và quy định của Nghị định. Trường hợp phát sinh cấp phó dôi dư sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy, việc xử lý được thực hiện theo lộ trình chuyển tiếp tối đa 05 năm, góp phần bảo đảm tính ổn định trong công tác cán bộ và hạn chế tác động đến đội ngũ quản lý.
4. Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của viên chức, người lao động
Việc sắp xếp tổ chức bộ máy phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức và người lao động theo quy định của pháp luật.
Quá trình tổ chức lại các đơn vị cần được thực hiện trên cơ sở đánh giá khách quan về chức năng, nhiệm vụ và hiệu quả hoạt động, đồng thời bảo đảm thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách về tiền lương, phụ cấp, bảo hiểm, đào tạo, bồi dưỡng, quyền nghề nghiệp và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật. Mục tiêu xuyên suốt là sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng hoạt động và tạo môi trường làm việc ổn định, minh bạch và phát triển.
5. Triển khai thống nhất với Luật Giáo dục đại học
Đối với NEU, việc triển khai Nghị định 299 phải được thực hiện thống nhất với Luật Giáo dục đại học, Luật Viên chức và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Các quy định của Nghị định về tổ chức bộ máy, quyền tự chủ, vị trí việc làm, quản lý nhân sự và cơ cấu tổ chức cần được vận dụng phù hợp với cơ chế quản trị đại học, thẩm quyền của Hội đồng trường, Giám đốc (Hiệu trưởng) và các quy định chuyên ngành về giáo dục đại học. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm bảo đảm vừa tuân thủ pháp luật, vừa phát huy tối đa quyền tự chủ, nâng cao hiệu quả quản trị và chất lượng hoạt động của Nhà trường.
Như vậy, đối với NEU, Nghị định 299 không chỉ tạo khuôn khổ pháp lý mới cho việc kiện toàn tổ chức bộ máy mà còn thúc đẩy đổi mới quản trị nguồn nhân lực theo hướng hiện đại, minh bạch và dựa trên hiệu quả. Việc triển khai đồng bộ các quy định về vị trí việc làm, đánh giá theo kết quả thực hiện nhiệm vụ, quy hoạch cấp phó, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của viên chức và người lao động, đồng thời tuân thủ Luật Giáo dục đại học, sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ, tăng cường năng lực quản trị và phát huy hiệu quả quyền tự chủ của Nhà trường trong giai đoạn phát triển mới.
VI. CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG ĐỐI VỚI NEU
Để triển khai hiệu quả Nghị định 299, đồng thời bảo đảm thống nhất với Luật Giáo dục đại học, Luật Viên chức năm 2025, các văn bản hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như các chuẩn quản trị đại học tiên tiến (FIBAA, AUN-QA), NEU cần xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình hành động với 06 nhóm nhiệm vụ trọng tâm sau đây:
1. Hoàn thiện hệ thống thể chế và văn bản quản trị nội bộ
Nhà trường cần tổ chức rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quản trị nội bộ nhằm bảo đảm tính thống nhất với Nghị định 299 và các quy định của pháp luật chuyên ngành. Trọng tâm là hoàn thiện Quy chế Tổ chức và hoạt động, Quy chế phân cấp, phân quyền, Quy chế làm việc, Quy chế quản trị nhân sự, các quy định về chức năng, nhiệm vụ của các khoa, viện, phòng, ban, trung tâm và các đơn vị trực thuộc, cùng các quy định về tổ chức bộ máy, vị trí việc làm, cơ chế quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình.
Việc hoàn thiện thể chế nội bộ sẽ tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho quá trình đổi mới quản trị đại học theo hướng hiện đại, minh bạch và hiệu quả.
2. Cập nhật và hoàn thiện Đề án tự chủ giai đoạn 2026-2030
Nhà trường cần khẩn trương rà soát, cập nhật và hoàn thiện Đề án tự chủ giai đoạn 2026-2030 theo yêu cầu của Nghị định, bảo đảm thể hiện đầy đủ mục tiêu phát triển, phương án tổ chức bộ máy, phát triển nguồn nhân lực, cơ chế tài chính và lộ trình nâng cao mức độ quyền tự chủ trong 05 năm.
Đồng thời, Đề án cần bổ sung đầy đủ các nội dung về khung tổ chức các đơn vị trực thuộc, vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp, khung số lượng cấp phó và phương án kiện toàn tổ chức phù hợp với Chiến lược phát triển của Nhà trường trong giai đoạn mới.
3. Kiện toàn tổ chức bộ máy, vị trí việc làm và đội ngũ quản lý
Nhà trường cần tiến hành rà soát toàn diện mô hình tổ chức của các khoa, viện, trung tâm, phòng, ban và các đơn vị trực thuộc trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quy mô và hiệu quả hoạt động theo các tiêu chí mới của Nghị định.
Trên cơ sở đó, xây dựng phương án sáp nhập, hợp nhất, tổ chức lại hoặc giải thể đối với những đơn vị không còn phù hợp; đồng thời hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và kế hoạch sử dụng người làm việc.
Bên cạnh đó, cần rà soát, bố trí số lượng cấp phó của các đơn vị phù hợp với Đề án tự chủ giai đoạn 2026-2030 và quy định của Nghị định; thực hiện lộ trình xử lý cấp phó dôi dư (nếu có) theo đúng quy định chuyển tiếp, bảo đảm ổn định tổ chức và không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức và người lao động.
4. Chuẩn bị cho công tác phân loại, xếp hạng và nâng cao hiệu quả quản trị
Để đáp ứng các tiêu chí mới về phân loại và xếp hạng ĐVSNCL, Đại học cần xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động của các đơn vị trực thuộc; đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị đại học, quản lý nhân sự, đào tạo, nghiên cứu khoa học và cung cấp dịch vụ.
Đồng thời, cần thiết lập hệ thống khảo sát mức độ hài lòng của người sử dụng dịch vụ, người học, doanh nghiệp, cựu người học và các bên liên quan; chuẩn bị đầy đủ dữ liệu, hồ sơ và minh chứng phục vụ công tác phân loại, xếp hạng theo chu kỳ 05 năm, từng bước chuyển từ quản trị dựa trên đầu vào sang quản trị dựa trên kết quả và hiệu quả hoạt động.
5. Đồng bộ với các chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục đại học quốc tế
Việc triển khai Nghị định 299 cần gắn với quá trình hoàn thiện hệ thống quản trị theo các tiêu chuẩn về Governance & Organization của FIBAA và AUN-QA.
Theo đó, Nhà trường cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của từng đơn vị, từng vị trí công tác; bảo đảm tính minh bạch trong quá trình ra quyết định; nâng cao trách nhiệm giải trình của các đơn vị và người đứng đầu; đồng thời xây dựng mô hình quản trị đại học hiện đại, lấy chất lượng, hiệu quả và người học làm trung tâm.
Việc đồng bộ giữa Nghị định và các tiêu chuẩn kiểm định quốc tế sẽ góp phần nâng cao năng lực quản trị, chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và uy tín của NEU trong tiến trình hội nhập quốc tế.
6. Tăng cường truyền thông, tập huấn, công khai, trách nhiệm giải trình và chế độ báo cáo
Đại học cần tổ chức phổ biến, quán triệt đầy đủ nội dung Nghị định 299 đến toàn thể viên chức, người lao động và các đơn vị trực thuộc; đồng thời tổ chức các chương trình tập huấn, bồi dưỡng về quản trị đại học, quản trị nhân sự, xây dựng vị trí việc làm, tổ chức bộ máy và thực hiện quyền tự chủ cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý các cấp.
Cùng với đó, cần thực hiện nghiêm chế độ công khai, trách nhiệm giải trình, tăng cường theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc triển khai Nghị định tại các đơn vị; giao các đơn vị chức năng tham mưu Ban Giám đốc xây dựng kế hoạch triển khai, hướng dẫn thực hiện, tổng hợp kết quả và thực hiện chế độ báo cáo định kỳ theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ và các cơ quan có thẩm quyền.
Thông qua các hoạt động truyền thông, tập huấn, công khai và giám sát, Đại học sẽ tạo sự thống nhất trong nhận thức, nâng cao trách nhiệm thực thi và bảo đảm việc triển khai Nghị định đúng quy định, đồng bộ, minh bạch và hiệu quả.
Sáu nhóm nhiệm vụ nêu trên cần được triển khai theo lộ trình phù hợp, gắn với việc phân công rõ cơ quan chủ trì, đơn vị phối hợp, thời hạn hoàn thành và cơ chế kiểm tra, giám sát; đồng thời thường xuyên đánh giá kết quả thực hiện để kịp thời điều chỉnh khi cần thiết, bảo đảm việc triển khai Nghị định đồng bộ, hiệu quả và phù hợp với Chiến lược phát triển của Đại học Kinh tế Quốc dân giai đoạn 2026-2030.
Đây là nền tảng quan trọng để NEU tiếp tục hoàn thiện mô hình đại học tự chủ, xây dựng tổ chức bộ máy tinh gọn, hiện đại, nâng cao chất lượng quản trị, đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng, đồng thời đáp ứng đầy đủ yêu cầu của pháp luật và các chuẩn mực kiểm định chất lượng giáo dục đại học trong nước và quốc tế.
VII. KẾT LUẬN
Nghị định 299 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy quản trị ĐVSNCL, chuyển từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang mô hình quản trị hiện đại dựa trên quyền tự chủ, hiệu quả hoạt động, chuyển đổi số và trách nhiệm giải trình. Với việc quy định thống nhất về thành lập, tổ chức lại, giải thể, chuyển giao, phân loại, xếp hạng và thực hiện quyền tự chủ về tổ chức bộ máy, Nghị định đã thiết lập khuôn khổ pháp lý mới, góp phần thúc đẩy quá trình tinh gọn bộ máy, nâng cao chất lượng dịch vụ sự nghiệp công, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Đặc biệt, việc bổ sung các tiêu chí về mức độ chuyển đổi số, mức độ hài lòng của người sử dụng dịch vụ, cùng cơ chế xếp hạng theo chu kỳ 05 năm đã thể hiện rõ định hướng quản trị công hiện đại, lấy kết quả, chất lượng và hiệu quả phục vụ làm trung tâm.
Đối với NEU, Nghị định có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì Đại học là cơ sở giáo dục đại học công lập đang thực hiện cơ chế tự chủ. Những quy định mới không chỉ mở rộng quyền tự chủ trong tổ chức và quản trị mà còn đặt ra yêu cầu tiếp tục rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy, hoàn thiện vị trí việc làm, cơ cấu đội ngũ, quy hoạch cấp phó, cập nhật Đề án tự chủ giai đoạn 2026-2030 và nâng cao chất lượng quản trị theo hướng minh bạch, hiệu quả. Đồng thời, việc triển khai Nghị định phải được thực hiện thống nhất với Luật Giáo dục đại học, Luật Viên chức và các quy định chuyên ngành, bảo đảm vừa tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật, vừa phát huy tối đa quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học.
Trong thời gian tới, NEU cần triển khai đồng bộ các nhóm nhiệm vụ trọng tâm, bao gồm: hoàn thiện hệ thống thể chế nội bộ; cập nhật Đề án tự chủ giai đoạn 2026-2030; kiện toàn tổ chức bộ máy, vị trí việc làm và đội ngũ quản lý; chuẩn bị các điều kiện phục vụ phân loại, xếp hạng ĐVSNCL; tăng cường chuyển đổi số trong quản trị; đồng thời tiếp tục đồng bộ hóa mô hình quản trị với các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng quốc tế như FIBAA và AUN-QA. Quá trình triển khai cần được xây dựng theo lộ trình cụ thể, xác định rõ cơ quan chủ trì, đơn vị phối hợp, thời hạn thực hiện và cơ chế kiểm tra, giám sát; đồng thời thực hiện nghiêm các yêu cầu về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, bảo đảm việc thực hiện Nghị định thống nhất, hiệu quả và phù hợp với Chiến lược phát triển của Nhà trường trong giai đoạn mới.
Có thể khẳng định rằng, Nghị định 299 không chỉ là văn bản điều chỉnh về tổ chức ĐVSNCL mà còn là nền tảng pháp lý quan trọng thúc đẩy đổi mới quản trị khu vực sự nghiệp công theo hướng hiện đại, tự chủ và phát triển bền vững. Việc chủ động, kịp thời và hiệu quả triển khai Nghị định sẽ tạo điều kiện để NEU tiếp tục hoàn thiện mô hình đại học tự chủ, qua đó góp phần nâng cao năng lực quản trị, chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng, đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục đại học trong bối cảnh đổi mới quản trị khu vực công và hội nhập quốc tế./.