Những nội dung trọng tâm của Nghị định số 232/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm của viên chức và gợi ý Đại học Kinh tế Quốc dân cần triển khai

Những nội dung trọng tâm của Nghị định số 232/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm của viên chức và gợi ý Đại học Kinh tế Quốc dân cần triển khai

Văn bản mới - Chính sách mới - Giảng viên

Những nội dung trọng tâm của Nghị định số 232/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm của viên chức và gợi ý Đại học Kinh tế Quốc dân cần triển khai

Nghị định số 232/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm (VTVL) của viên chức (gọi tắt là Nghị định 232) là văn bản pháp lý quan trọng quy định thống nhất về VTVL của viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó có Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU). Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế các quy định về VTVL tại Nghị định số 106/2020/NĐ-CP, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quản trị nguồn nhân lực khu vực sự nghiệp công lập: từ quản lý chủ yếu “theo con người, bằng cấp/chức danh” sang quản lý theo VTVL, bậc nghề nghiệp, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Đây không chỉ là văn bản kỹ thuật về tổ chức nhân sự mà còn là nền tảng quan trọng để đổi mới quản trị đại học theo hướng hiện đại, minh bạch, lấy hiệu quả công việc và sản phẩm đầu ra làm trung tâm.

I. MỤC TIÊU, PHẠM VI VÀ Ý NGHĨA QUẢN TRỊ ĐẠI HỌC CỦA NGHỊ ĐỊNH

1. Mục tiêu: Chuẩn hóa hệ thống VTVL của viên chức trên phạm vi cả nước; làm căn cứ thống nhất cho công tác tuyển dụng, sử dụng, bố trí, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, bổ nhiệm, quy hoạch và thực hiện chính sách tiền lương; tăng quyền tự chủ cho đơn vị sự nghiệp công lập đồng thời vẫn bảo đảm sự quản lý thống nhất của Nhà nước.

2. Phạm vi điều chỉnh: Quy định toàn diện về nguyên tắc xây dựng VTVL; danh mục VTVL; bậc nghề nghiệp; bản mô tả công việc; khung năng lực; phương pháp xác định VTVL; cơ cấu/tỷ lệ viên chức theo từng bậc nghề nghiệp; thẩm quyền phê duyệt, điều chỉnh VTVL và các quy định chuyển tiếp.

3. Ý nghĩa đối với đổi mới quản trị tại NEU: Tạo cơ sở pháp lý để Đại học thực hiện quản trị nhân lực hiện đại; tăng cường quyền tự chủ đi đôi với trách nhiệm giải trình; xây dựng đội ngũ theo năng lực, hiệu quả công việc và kết quả đầu ra; từng bước đồng bộ với cải cách chế độ công vụ, cải cách tiền lương và chuyển đổi số trong quản trị đại học.

Đặc biệt, Nghị định 232 đánh dấu sự chuyển đổi từ mô hình quản trị nhân sự dựa chủ yếu vào chức danh nghề nghiệp và thâm niên công tác sang mô hình quản trị theo VTVL, năng lực thực hiện nhiệm vụ và kết quả đầu ra. Đây là xu hướng quản trị nguồn nhân lực hiện đại đang được áp dụng rộng rãi trong khu vực công của nhiều quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, tăng cường trách nhiệm giải trình và tạo động lực phát triển nghề nghiệp cho viên chức.

II. NHỮNG ĐIỂM MỚI NỔI BẬT CỦA NGHỊ ĐỊNH 232

1. Chuẩn hóa danh mục vị trí việc làm trên phạm vi cả nước

Lần đầu tiên Chính phủ ban hành thống nhất 03 nhóm VTVL khung, các đơn vị chỉ được lựa chọn trong danh mục này hoặc theo quy định của pháp luật chuyên ngành, không được tự đặt thêm hoặc đổi tên VTVL:

a) Nhóm VTVL quản lý (Phụ lục I): Gồm các chức vụ lãnh đạo, quản lý như Giám đốc/Hiệu trưởng, Phó Giám đốc/Phó Hiệu trưởng, Trưởng/Phó khoa, Trưởng/Phó phòng, Giám đốc trung tâm, Trưởng bộ môn…

b) Nhóm VTVL chuyên môn, nghiệp vụ (Phụ lục II): Thực hiện nhiệm vụ chuyên môn cốt lõi của đơn vị. Đối với NEU bao gồm Giảng viên, Giảng viên chính, Giảng viên cao cấp, nghiên cứu viên, quản lý đào tạo, khảo thí, bảo đảm chất lượng giáo dục, hợp tác quốc tế, công nghệ thông tin, thư viện…

c) Nhóm VTVL hỗ trợ (Phụ lục III): Gồm các vị trí phục vụ hoạt động quản trị và vận hành như pháp chế, tổ chức cán bộ, kế toán, văn thư, lưu trữ, hành chính, công nghệ thông tin, giáo vụ, tư vấn người học, y tế trường học, kỹ thuật, bảo vệ…

2. Thiết lập Hệ thống 05 Bậc nghề nghiệp gắn liền với Tiền lương

Mỗi VTVL chuyên môn và hỗ trợ được thiết kế tối đa 05 bậc nghề nghiệp (từ Bậc 1 đến Bậc 5 – cao nhất), phản ánh mức độ phức tạp của công việc và phạm vi ảnh hưởng. Thay đổi bậc nghề nghiệp thể hiện sự phát triển năng lực của viên chức trong cùng một vị trí chứ không phải thay đổi VTVL.

Nghị định xác lập nguyên tắc cốt lõi: Viên chức được bố trí vào bậc nghề nghiệp nào thì được xếp lương tương ứng với bậc nghề nghiệp đó. Việc nâng bậc phải gắn với đáp ứng yêu cầu năng lực và sản phẩm đầu ra. Trong giai đoạn chuyển tiếp (khi chưa áp dụng tiền lương mới), việc xếp lương dựa trên bảng lương của Nghị định số 204/2004/NĐ-CP:

Bậc nghề nghiệpLoại viên chức tương ứngGhi chú áp dụng thực tế tại NEU
Bậc 1Viên chức Loại BKhối nhân sự hỗ trợ, phục vụ
Bậc 2Viên chức Loại A0Khối nhân sự hỗ trợ, phục vụ chuyên cấp
Bậc 3Viên chức Loại A1Chức danh Giảng viên
Bậc 4Viên chức Loại A2, Nhóm 1 (A2.1)Chức danh Giảng viên chính
Bậc 5Viên chức Loại A3, Nhóm 1 (A3.1)Chức danh Giảng viên cao cấp (gồm cả Giáo sư, Phó Giáo sư)

Lưu ý đối với viên chức quản lý: Tiền lương được tính dựa trên bậc nghề nghiệp chuyên môn/hỗ trợ đang giữ, cộng thêm phụ cấp chức vụ lãnh đạo tương ứng theo quy định hiện hành.

3. Quản trị bằng Bản mô tả công việc, Khung năng lực và Sản phẩm đầu ra

Điểm đổi mới cốt lõi của Nghị định là chuyển mạnh sang quản trị theo kết quả thực hiện nhiệm vụ. Theo đó, bản mô tả công việc, khung năng lực và hệ thống sản phẩm đầu ra (KPI) sẽ trở thành căn cứ xuyên suốt trong toàn bộ vòng đời quản trị viên chức, từ tuyển dụng, bố trí, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, nâng bậc nghề nghiệp, quy hoạch, bổ nhiệm đến thực hiện chế độ tiền lương và phát triển nghề nghiệp. Đây là bước chuyển quan trọng từ đánh giá dựa trên quá trình sang đánh giá dựa trên kết quả, hiệu quả và giá trị tạo ra của từng VTVL.

Mỗi VTVL chỉ xây dựng 01 bản mô tả công việc01 khung năng lực duy nhất làm căn cứ xuyên suốt cho mọi khâu từ tuyển dụng đến trả lương. Mọi nhiệm vụ phải được mô tả định lượng, đo lường và kiểm chứng được thông qua các nội dung:

– Chức năng, nhiệm vụ; Quyền hạn, trách nhiệm và Quan hệ công tác.

– Yêu cầu về khung năng lực: Bao gồm năng lực chung, năng lực quản lý (nếu có), năng lực chuyên môn và năng lực theo từng bậc. Đối với giáo dục đại học, khung năng lực phải gắn chặt với chuẩn chức danh giảng viên, tiêu chuẩn Giáo sư, Phó Giáo sư; chú trọng năng lực số, đổi mới sáng tạo, ngoại ngữ, NCKH và hợp tác quốc tế.

Sản phẩm đầu ra và Tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ.

4. Kiểm soát Cơ cấu và Tỷ lệ viên chức theo bậc nghề nghiệp

Nghị định quy định trần tỷ lệ tối đa đối với các bậc nghề nghiệp cao nhằm bảo đảm cơ cấu hợp lý:

– Vị trí có bậc cao nhất là Bậc 5: Bậc 5 không quá 30%; Bậc 4 không quá 40%.

– Vị trí có bậc cao nhất là Bậc 4: Bậc 4 không quá 40%.

– Vị trí chỉ có hai bậc nghề nghiệp: Bậc cao hơn không vượt quá 50%.

Quy định chuyển tiếp: Chậm nhất đến ngày 01/7/2027, các đơn vị phải hoàn thành phê duyệt VTVL và bố trí viên chức. Trong thời gian chưa hoàn thành sắp xếp, các đơn vị không được tuyển dụng hoặc nâng bậc đối với các vị trí đã vượt cơ cấu quy định.

III. NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO QUYỀN LỢI VÀ QUYỀN TỰ CHỦ CỦA NEU

1. Đảm bảo quyền lợi liên tục của viên chức trong quá trình chuyển xếp

– Viên chức tuyển dụng trước ngày 01/07/2026 được chuyển tương ứng từ chức danh hiện giữ sang bậc nghề nghiệp mới, tiếp tục hưởng hệ số lương hiện tại, bảo đảm không làm gián đoạn quyền lợi.

– Trường hợp đang xếp lương loại A2.2 hoặc A3.2 sẽ được hướng dẫn chuyển xếp vào loại A2.1 hoặc A3.1 theo quy định hiện hành khi chuyển sang bậc nghề nghiệp mới.

2. Quyền tự chủ tối đa của NEU trong cơ chế tự chủ tài chính

Quyền tự chủ trong xác định danh mục VTVL, cơ cấu bậc nghề nghiệp và xây dựng khung năng lực phải đi đôi với trách nhiệm giải trình. Đại học cần bảo đảm việc xây dựng VTVL dựa trên chức năng, nhiệm vụ được giao; công khai, minh bạch trong bố trí, chuyển xếp và đánh giá viên chức; đồng thời chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý nhà nước và xã hội về tính chính xác, khách quan của toàn bộ hệ thống VTVL.

– Tự phê duyệt: Là đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, Giám đốc NEU có thẩm quyền tự phê duyệt danh mục VTVL, bản mô tả công việc, khung năng lực của trường mà không cần trình Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt thay.

– Quyết định tỷ lệ bậc cao: NEU được quyền quyết định tỷ lệ viên chức ở các bậc nghề nghiệp khác với trần tỷ lệ chung của Nghị định để phù hợp với khả năng tài chính và chiến lược phát triển đại học nghiên cứu, hội nhập quốc tế.

– Cụ thể hóa VTVL: Trường được quyền cụ thể hóa nhiệm vụ, yêu cầu năng lực trong bản mô tả công việc của từng vị trí nhưng tuyệt đối không được tự ý đổi tên, bổ sung vị trí ngoài danh mục khung, hoặc gộp/chia tách vị trí trái quy định.

Kết luận

Nghị định số 232/2026/NĐ-CP mở ra một giai đoạn mới trong quản trị nguồn nhân lực khu vực sự nghiệp công lập, lấy VTVL, bậc nghề nghiệp, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ làm nền tảng cho toàn bộ hoạt động tuyển dụng, sử dụng, đánh giá, phát triển và đãi ngộ viên chức. Đối với NEU, việc triển khai đầy đủ, đồng bộ và đúng lộ trình Nghị định không chỉ nhằm bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật mà còn là cơ hội quan trọng để đổi mới toàn diện mô hình quản trị nhân lực theo hướng hiện đại, minh bạch, dựa trên năng lực và kết quả đầu ra; phát huy hiệu quả cơ chế tự chủ đại học; tăng cường trách nhiệm giải trình; thúc đẩy chuyển đổi số trong quản trị; đồng thời xây dựng đội ngũ viên chức có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đại học nghiên cứu, hội nhập quốc tế và phát triển bền vững trong giai đoạn mới.