Tóm tắt nội dung trọng tâm Thông tư số 65/2026/TT-BGDĐT của Bộ GDĐT quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam và định hướng triển khai tại Đại học Kinh tế Quốc dân

Tóm tắt nội dung trọng tâm Thông tư số 65/2026/TT-BGDĐT của Bộ GDĐT quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam và định hướng triển khai tại Đại học Kinh tế Quốc dân

Văn bản mới - Chính sách mới - Giảng viên

Tóm tắt nội dung trọng tâm Thông tư số 65/2026/TT-BGDĐT của Bộ GDĐT quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam và định hướng triển khai tại Đại học Kinh tế Quốc dân

I. KHÁI QUÁT CHUNG VÀ TINH THẦN CỐT LÕI CỦA THÔNG TƯ 65

1. Thông tin chung và phạm vi điều chỉnh

Thông tư số 65/2026/TT-BGDĐT được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 11/8/2026, dự kiến có hiệu lực từ ngày 26/9/2026.

Thông tư quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục và thẩm quyền công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam, bao gồm:

– Văn bằng giáo dục phổ thông;

– Văn bằng giáo dục nghề nghiệp;

– Văn bằng giáo dục đại học.

Thông tư đồng thời thay thế các quy định trước đây về công nhận văn bằng nước ngoài theo quy định tại điều khoản thi hành.

Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm thống nhất cơ chế công nhận và sử dụng văn bằng nước ngoài trong bối cảnh quốc tế hóa giáo dục, đào tạo xuyên biên giới, phát triển giáo dục trực tuyến và gia tăng nhu cầu học tập ở nước ngoài.

Đối với cơ sở giáo dục đại học, Thông tư có ý nghĩa không chỉ ở phương diện thủ tục hành chính mà còn đặt ra yêu cầu mới về quản trị dữ liệu, xác thực văn bằng, trách nhiệm giải trình và kiểm soát rủi ro trong sử dụng văn bằng nước ngoài.

2. Chuyển từ “xác nhận văn bằng” sang “xác định trình độ và giá trị sử dụng”

Tinh thần quan trọng của Thông tư 65 là công nhận văn bằng không chỉ dừng ở việc xác nhận sự tồn tại hoặc tính xác thực của một văn bằng, mà hướng tới xác định vị trí của văn bằng trong hệ thống giáo dục của nước cấp bằng và, khi đủ căn cứ, xác định trình độ tương ứng trong hệ thống giáo dục Việt Nam.

Việc xem xét tập trung vào các yếu tố chủ yếu:

Điều kiện đầu vào;

– Khối lượng và thời gian học tập;

Trình độ đào tạo;

– Chương trình đào tạo và phương thức đào tạo;

– Địa điểm tổ chức đào tạo;

– Tư cách pháp lý của cơ sở đào tạo và quyền cấp văn bằng;

– Tính hợp pháp và tính xác thực của văn bằng.

Trường hợp văn bằng đáp ứng điều kiện nhưng chưa đủ cơ sở xác định trình độ tương đương với hệ thống trình độ của Việt Nam, việc xử lý vẫn có thể dựa trên thông  tin về trình độ của văn bằng trong hệ thống giáo dục của nước cấp bằng theo quy định.

Có thể khái quát sự chuyển dịch này là: Từ “kiểm tra có văn bằng hay không” → sang “xác định văn bằng thuộc hệ thống nào, ở trình độ nào, được hình thành bằng quá trình đào tạo nào và có giá trị sử dụng ra sao”.

3. Công nhận văn bằng theo nhu cầu và cơ chế tự chủ đánh giá của cơ sở giáo dục đại học

Việc công nhận văn bằng được thực hiện theo nhu cầu của người có văn bằng hoặc tổ chức sử dụng lao động khi có sự đồng ý của người có văn bằng theo quy định.

Do đó cần phân biệt rõ: Văn bằng được cấp hợp pháp không đồng nghĩa với việc đương nhiên đã có Giấy công nhận văn bằng của Việt Nam.

Đồng thời, đối với cơ sở giáo dục đại học, Thông tư thiết lập cơ chế tự chủ đánh giá văn bằng nước ngoài để sử dụng trong hoạt động đào tạo nội bộ theo Điều 7.

Đây là điểm có ý nghĩa đặc biệt đối với NEU.

Tự chủ đánh giá không đồng nghĩa với tự do công nhận văn bằng thay cho cơ quan nhà nước.

Vì vậy, trong mọi quy trình nội bộ của NEU cần sử dụng thuật ngữ chính xác:

– “Công nhận văn bằng”: thuộc thẩm quyền của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

– “Đánh giá văn bằng để sử dụng trong hoạt động đào tạo nội bộ”: thuộc cơ chế tự chủ của cơ sở giáo dục đại học theo quy định.

4. Đẩy mạnh chuyển đổi số, xác thực điện tử và giảm giấy tờ

Thông tư 65 thể hiện định hướng chuyển từ quản lý hồ sơ giấy sang quản lý dựa trên dữ liệu và xác thực điện tử.

Các phương thức được ưu tiên gồm: Hồ sơ điện tử → xác thực trực tiếp → khai thác cơ sở dữ liệu → định danh điện tử → giảm giấy tờ → tăng khả năng hậu kiểm.

Người đề nghị thực hiện thủ tục chủ yếu thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia; thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu và được phép khai thác thì không yêu cầu người dân cung cấp lại.

Kết quả công nhận có thể được thể hiện dưới dạng:

– Văn bản giấy;

– Văn bản điện tử;

– Văn bản số.

Các hình thức này có giá trị pháp lý theo quy định.

Tinh thần cốt lõi là: Xác thực bằng dữ liệu và nguồn chính thức được ưu tiên hơn việc gia tăng giấy tờ hành chính.

5. Tăng cường tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục đại học

Cơ sở giáo dục đại học được tự chủ đánh giá văn bằng nước ngoài để sử dụng trong hoạt động đào tạo nội bộ, đồng thời phải chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá.

Cơ sở giáo dục phải tổ chức theo dõi, quản lý kết quả đánh giá, trong đó lưu giữ các thông tin chủ yếu về:

– Người có văn bằng;

– Cơ sở giáo dục cấp bằng;

– Hình thức đào tạo;

– Trình độ theo hệ thống giáo dục của nước cấp bằng;

– Trình độ được xác định tương ứng khi có căn cứ;

– Căn cứ và kết quả đánh giá.

Đồng thời thực hiện chế độ báo cáo theo quy định, trong đó có yêu cầu báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo trước ngày 31/01 hằng năm.

Có thể khái quát nguyên tắc quản trị: Tự chủ → tự chịu trách nhiệm → có căn cứ → có hồ sơ → có lưu vết → có báo cáo → có khả năng hậu kiểm.

II. NHỮNG NỘI DUNG TRỌNG TÂM CỦA THÔNG TƯ 65

1. Điều kiện chung để văn bằng nước ngoài được công nhận

Văn bằng phải do cơ sở giáo dục nước ngoài hoạt động hợp pháp, chương trình giáo dục bảo đảm các điều kiện về chất lượng và đáp ứng quy định về quyền đào tạo, quyền cấp văn bằng hoặc kiểm định chất lượng.

Các trường hợp chủ yếu gồm:

Trường hợp 1 – Cơ sở được cơ quan có thẩm quyền cho phép: Cơ sở giáo dục được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của nước sở tại cho phép đào tạo và cấp văn bằng.

Trường hợp 2 – Cơ sở được kiểm định: Cơ sở giáo dục được tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục có thẩm quyền kiểm định và văn bằng được cơ quan có thẩm quyền của nước cấp bằng công nhận.

Trường hợp 3 – Chương trình được công nhận hoặc kiểm định: Chương trình đào tạo được cơ quan có thẩm quyền cho phép hoặc được tổ chức kiểm định có thẩm quyền kiểm định và văn bằng được cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại công nhận.

Đối với NEU cần đặc biệt lưu ý: Không chỉ kiểm tra tên và sự tồn tại của trường cấp bằng; phải kiểm tra tư cách pháp lý, quyền đào tạo, quyền cấp bằng, chương trình, địa điểm và phương thức đào tạo.

2. Văn bằng đào tạo trực tiếp tại nước ngoài

Văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp cho người học học tập trực tiếp tại quốc gia nơi cơ sở giáo dục đặt trụ sở chính được xem xét công nhận khi đáp ứng các điều kiện chung theo quy định.

Điểm cần lưu ý là nơi cấp bằng và nơi thực tế tổ chức đào tạo phải được xác định rõ, nhất là đối với các chương trình có nhiều cơ sở hoặc nhiều địa điểm đào tạo.

3. Văn bằng của chương trình triển khai tại Việt Nam

Đối với chương trình do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp bằng nhưng được triển khai tại Việt Nam, hoạt động đào tạo phải được thực hiện hợp pháp tại Việt Nam và đáp ứng các điều kiện pháp lý tương ứng tại thời điểm triển khai.

Cần xem xét tối thiểu:

– Phê duyệt chương trình;

– Tuyển sinh;

– Địa điểm đào tạo;

– Thời lượng đào tạo;

– Đối tác tham gia;

– Quyền cấp bằng;

– Các điều kiện pháp lý khác.

Điều này đặc biệt quan trọng đối với các chương trình liên kết, hợp tác đào tạo quốc tế của NEU.

Có thể khái quát: Văn bằng hợp pháp phải bắt đầu từ một chương trình và quá trình đào tạo hợp pháp.

4. Văn bằng của chương trình triển khai tại nước thứ ba

Trường hợp cơ sở giáo dục nước ngoài triển khai chương trình tại một quốc gia khác với quốc gia đặt trụ sở chính, ngoài các điều kiện chung còn phải xem xét:

– Tư cách pháp lý của cơ sở thực hiện đào tạo tại nước thứ ba;

– Quy định của cơ quan quản lý giáo dục nước thực hiện chương trình;

– Tình trạng pháp lý, kiểm định của cơ sở hoặc chương trình;

– Quyền cấp văn bằng.

Quy định này đặc biệt quan trọng đối với đào tạo xuyên quốc gia, liên kết quốc tế và các chương trình triển khai ngoài quốc gia đặt trụ sở của cơ sở cấp bằng.

5. Văn bằng đào tạo từ xa, trực tuyến

Thông tư 65 không loại trừ văn bằng được đào tạo từ xa hoặc trực tuyến.

Tuy nhiên, chương trình phải đáp ứng các điều kiện chung và việc tổ chức đào tạo phải phù hợp với quy định của cơ quan có thẩm quyền tại nơi chương trình được phép triển khai.

Đối với NEU, đây là nhóm hồ sơ cần xác minh kỹ hơn về cơ sở pháp lý, phương thức đào tạo, địa điểm học tập, thời gian đào tạo và quyền cấp bằng.

Không nên mặc định: “Đào tạo trực tuyến” = “không được công nhận”.

Nhưng cũng không nên mặc định: “Đào tạo trực tuyến” = “đương nhiên được công nhận”.

6. Điều kiện đối với văn bằng giáo dục nghề nghiệp

Ngoài các điều kiện chung, văn bằng giáo dục nghề nghiệp cần được xem xét về:

– Điều kiện tuyển đầu vào;

– Thời lượng học tập, tính theo năm học hoặc tín chỉ theo quy định;

– Bậc trình độ tương ứng trong hệ thống giáo dục Việt Nam.

7. Quy định đặc thù đối với bằng tiến sĩ

Đây là nhóm văn bằng cần được thẩm định chuyên sâu trong hoạt động tuyển sinh, tuyển dụng và quản trị nhân sự đại học.

7.1. Tiến sĩ đào tạo trực tiếp nhưng nghiên cứu thực địa tại nước khác

Trường hợp người học đào tạo trực tiếp nhưng thực hiện nghiên cứu thực địa tại quốc gia khác phải bảo đảm tối thiểu 12 tháng học tập, nghiên cứu trực tiếp tại cơ sở đào tạo trong toàn khóa học, nếu thuộc trường hợp áp dụng quy định này.

7.2. Tiến sĩ theo hình thức công nhận kết quả nghiên cứu đã có

Ngoài điều kiện chung, cần xem xét các yếu tố như:

– Có người hướng dẫn khoa học;

– Hoàn thành yêu cầu học thuật của chương trình;

– Bảo vệ luận án trước hội đồng học thuật;

– Cơ sở đào tạo xác nhận kết quả nghiên cứu, công trình khoa học là bộ phận của chương trình;

– Kết quả học tập và nghiên cứu đáp ứng chuẩn đầu ra tương ứng.

Đối với NEU, cần thiết lập quy trình thẩm định chuyên sâu riêng đối với bằng tiến sĩ nước ngoài, nhất là khi văn bằng được sử dụng để tuyển sinh, tuyển dụng, xác định trình độ hoặc đáp ứng điều kiện chuyên môn.

8. Trường hợp đặc thù, bất khả kháng

Đối với người học bị ảnh hưởng bởi các sự kiện như:

Chiến tranh;

Thiên tai;

Dịch bệnh;

Hỏa hoạn;

– Các trường hợp bất khả kháng hoặc trường hợp đặc thù khác,

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có thể xem xét, quyết định việc công nhận khi kết quả học tập, nghiên cứu đáp ứng chuẩn đầu ra tương ứng theo quy định.

Đây là cơ chế ngoại lệ và không nên được áp dụng theo cách suy rộng cho các trường hợp thông thường.

9. Thẩm quyền công nhận văn bằng

Theo nội dung tóm tắt, thẩm quyền được phân định như sau:

Loại văn bằngCơ quan có thẩm quyền
Văn bằng giáo dục nghề nghiệpCục trưởng Cục Quản lý chất lượng – Bộ GDĐT
Văn bằng giáo dục đại họcCục trưởng Cục Quản lý chất lượng – Bộ GDĐT
Bằng tốt nghiệp THCS, THPT; chứng nhận hoàn thành chương trình GDPTGiám đốc Sở GDĐT

Do đó: NEU không phải là cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính về công nhận văn bằng thay cho cơ quan nhà nước.

NEU chỉ thực hiện đánh giá văn bằng để sử dụng trong hoạt động đào tạo nội bộ theo cơ chế tự chủ và phải chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá.

Đây là ranh giới pháp lý phải được quán triệt thống nhất trong toàn Đại học.

10. Hồ sơ đề nghị công nhận

Hồ sơ cơ bản gồm:

– Phiếu đề nghị công nhận văn bằng;

– Bản sao văn bằng hoặc xác nhận cấp văn bằng và bản dịch tiếng Việt theo quy định;

– Bản sao phụ lục văn bằng/bảng kết quả học tập và bản dịch;

– Các văn bằng, chứng chỉ có liên quan trực tiếp theo từng trường hợp.

Đối với trường hợp đặc thù có thể cần bổ sung:

– Thông tin xuất nhập cảnh;

– Thị thực hoặc giấy tờ liên quan;

– Giấy tờ chứng minh thời gian học tập ở nước ngoài;

– Văn bản ủy quyền xác minh thông tin văn bằng.

Nguyên tắc cần quán triệt là: Chỉ yêu cầu bổ sung thông tin thực sự cần thiết để xác minh điều kiện công nhận; không phát sinh yêu cầu giấy tờ ngoài quy định một cách máy móc.

11. Hồ sơ điện tử và xác thực trực tiếp

Thông tư tạo thuận lợi đối với văn bằng điện tử và dữ liệu xác thực trực tiếp.

Trường hợp văn bằng, bảng điểm ở dạng số, dạng điện tử hoặc được cơ sở cấp bằng/cơ quan có thẩm quyền xác thực trực tiếp, có thể sử dụng bản quét theo trường hợp được quy định.

Đối với văn bằng bằng tiếng Anh đáp ứng điều kiện xác thực theo quy định, việc dịch sang tiếng Việt có thể được miễn.

Tinh thần chung: Xác thực trực tiếp và dữ liệu điện tử được ưu tiên hơn việc gia tăng yêu cầu về chứng thực và giấy tờ.

12. Trình tự, thời hạn giải quyết

Thủ tục được thực hiện theo hướng trực tuyến, thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Thời hạn giải quyết theo nội dung tóm tắt:

– 20 ngày làm việc kể từ khi hồ sơ đầy đủ được tiếp nhận;

– Trường hợp phải xác minh, làm rõ thông tin: không quá 30 ngày làm việc.

Việc giải quyết không phụ thuộc vào địa giới hành chính theo quy định.

13. Giá trị pháp lý và tra cứu kết quả công nhận

Kết quả công nhận có thể được thể hiện dưới dạng:

– Văn bản giấy;

– Văn bản điện tử;

– Văn bản số.

Các hình thức này có giá trị pháp lý theo quy định.

Kết quả công nhận được cập nhật vào cơ sở dữ liệu về công nhận văn bằng và theo lộ trình được kết nối với định danh điện tử VNeID.

Đây là bước chuyển quan trọng:

Từ “xác minh bằng giấy” → sang “xác minh bằng dữ liệu”.

14. Trường hợp được miễn thủ tục công nhận

Có thể được miễn thủ tục công nhận đối với:

– Văn bằng thuộc phạm vi hiệp định, thỏa thuận công nhận lẫn nhau;

– Văn bằng thuộc điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập;

– Văn bằng của người được Bộ GDĐT cử đi học bằng ngân sách nhà nước và tiếp nhận về nước theo quy định.

Cần đặc biệt lưu ý: Miễn thủ tục công nhận không đồng nghĩa với miễn kiểm tra tính hợp pháp, tính hợp lệ và tính xác thực của văn bằng khi cần thiết.

Đây là nguyên tắc quan trọng đối với tuyển sinh, tuyển dụng và quản trị hồ sơ nhân sự tại NEU.

15. Hủy bỏ và cấp lại Giấy công nhận

Giấy công nhận có thể bị hủy khi phát hiện:

– Văn bằng được cấp không hợp pháp;

– Hồ sơ đề nghị công nhận không trung thực.

Giấy công nhận có thể được cấp lại trong trường hợp:

– Sai sót thông tin;

– Lỗi kỹ thuật.

Quy định này đặt nền tảng cho việc xây dựng cơ chế hậu kiểm văn bằng tại NEU.

III. TÁC ĐỘNG TRỌNG YẾU CỦA THÔNG TƯ 65 ĐỐI VỚI NEU

1. Đối với tuyển dụng và quản trị nhân sự

Thông tư tác động trực tiếp đến:

– Tuyển dụng viên chức, người lao động;

– Tiếp nhận nhân sự được đào tạo ở nước ngoài;

– Xác định trình độ đào tạo;

– Bố trí, sử dụng nhân sự;

– Đánh giá điều kiện chuyên môn.

NEU cần chuyển từ cách tiếp cận: “Có văn bằng hay không?”

sang chuỗi kiểm tra: Văn bằng hợp pháp → cơ sở cấp bằng hợp pháp → chương trình hợp pháp → phương thức và địa điểm đào tạo → trình độ → mục đích sử dụng.

2. Đối với tuyển sinh

Thông tư đặc biệt có ý nghĩa đối với tuyển sinh:

Thạc sĩ;

Tiến sĩ;

– Người học tốt nghiệp ở nước ngoài;

– Người chuyển tiếp, chuyển đổi từ hệ thống giáo dục nước ngoài;

– Người sử dụng văn bằng nước ngoài để chứng minh điều kiện đầu vào.

Cần phân biệt rõ:

Điều kiện dự tuyển và điều kiện công nhận, sử dụng văn bằng là hai vấn đề pháp lý có liên quan nhưng không đồng nhất.

3. Đối với đào tạo sau đại học

Khi sử dụng văn bằng nước ngoài để xác định trình độ đầu vào, cần xem xét đồng bộ: Tên văn bằng – trình độ – ngành/chuyên ngành – thời lượng – tín chỉ – phương thức đào tạo – cơ sở cấp bằng – cơ sở thực hiện đào tạo – khả năng tiếp cận trình độ đào tạo tiếp theo.

Đặc biệt đối với nghiên cứu sinh, cần bổ sung lớp thẩm định về quá trình đào tạo và nghiên cứu thực tế khi có dấu hiệu cần xác minh.

4. Đối với chương trình hợp tác, liên kết đào tạo quốc tế

Thông tư đặt ra yêu cầu quản lý toàn bộ chuỗi pháp lý của quá trình đào tạo, từ: Phê duyệt → tuyển sinh → tổ chức đào tạo → kiểm soát địa điểm và thời lượng → cấp bằng → lưu trữ hồ sơ → hỗ trợ xác minh và công nhận văn bằng.

Do đó, NEU cần chuyển từ tư duy: “Quản lý chương trình”

sang: “Quản trị toàn bộ vòng đời pháp lý của văn bằng”.

5. Đối với pháp chế, thanh tra và kiểm soát nội bộ

Điều 7 tạo ra một lĩnh vực cần được quản trị theo nguyên tắc: Tự chủ → tự chịu trách nhiệm → có căn cứ → lưu vết → báo cáo → hậu kiểm.

Đây là cơ sở quan trọng để NEU xây dựng quy trình kiểm soát nội bộ về đánh giá và sử dụng văn bằng nước ngoài.

6. Đối với bảo đảm chất lượng và quản trị rủi ro

Thông tư có thể được tích hợp vào hệ thống bảo đảm chất lượng theo chu trình:

Đầu vào hợp pháp → thẩm định có căn cứ → quyết định minh bạch → lưu trữ dữ liệu → hậu kiểm → cải tiến.

Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu quản trị đại học hiện đại dựa trên bằng chứng, minh bạch, trách nhiệm giải trình, quản trị rủi ro và cải tiến liên tục.

IV. NHỮNG NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM NEU CẦN TRIỂN KHAI ĐỂ THỰC HIỆN THÔNG TƯ 65

1. Xây dựng và ban hành quy định nội bộ về đánh giá văn bằng nước ngoài

NEU nên xây dựng Quy định/Quy trình đánh giá và sử dụng văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp, áp dụng thống nhất trong toàn Đại học.

Tối thiểu phân thành ba nhóm:

Nhóm 1 – Có Giấy công nhận văn bằng:

Kiểm tra tính xác thực → lưu hồ sơ → sử dụng theo mục đích.

Nhóm 2 – Thuộc trường hợp miễn thủ tục công nhận:

Không yêu cầu thực hiện thủ tục công nhận, nhưng vẫn kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ và xác thực khi cần thiết.

Nhóm 3 – Chưa có Giấy công nhận:

Xác định có thuộc trường hợp NEU được tự đánh giá để sử dụng trong hoạt động đào tạo nội bộ theo Điều 7 hay không.

2. Xây dựng “Bộ tiêu chí đánh giá văn bằng nước ngoài” của NEU

Bộ tiêu chí nên bao gồm tối thiểu:

– Tư cách pháp lý của cơ sở cấp bằng;

– Tư cách pháp lý của cơ sở thực hiện đào tạo;

– Quyền đào tạo và quyền cấp văn bằng;

– Tình trạng kiểm định/chất lượng;

– Tên và trình độ văn bằng;

– Điều kiện đầu vào;

Thời lượng/tín chỉ;

– Phương thức đào tạo;

– Địa điểm đào tạo;

– Chương trình và chuẩn đầu ra;

– Ngành/chuyên ngành;

– Tính xác thực của văn bằng;

– Khả năng xác định trình độ tương ứng;

– Mục đích sử dụng văn bằng tại NEU.

3. Thiết lập cơ chế phân loại rủi ro

Có thể áp dụng ba mức:

Mức 1 Rủi ro thấp

Thông tin rõ ràng; cơ sở được công nhận; văn bằng có khả năng xác thực điện tử; chương trình và quá trình đào tạo minh bạch; hồ sơ đầy đủ.

→ Xử lý theo quy trình chuẩn, có thể rút gọn.

Mức 2 Rủi ro trung bình

Có yếu tố cần xác minh như:

– Đào tạo trực tuyến;

– Đào tạo tại nước thứ ba;

– Chương trình liên kết;

– Cơ sở cấp bằng khác cơ sở thực hiện đào tạo;

– Địa điểm hoặc thời gian đào tạo cần làm rõ.

→ Thẩm định bổ sung.

Mức 3 Rủi ro cao

Không xác định được:

– Quyền cấp bằng;

– Tư cách pháp lý của cơ sở;

– Tính xác thực;

– Địa điểm học tập;

– Thời lượng đào tạo;

hoặc có dấu hiệu bất thường.

→ Xác minh chính thức hoặc yêu cầu thực hiện thủ tục công nhận theo quy định.

4. Chuẩn hóa hồ sơ và “dấu vết pháp lý”

Mỗi trường hợp đánh giá cần có một hồ sơ điện tử hoàn chỉnh, tối thiểu gồm:

– Văn bằng;

– Bảng điểm/phụ lục;

– Thông tin cơ sở cấp bằng;

– Cơ sở thực hiện đào tạo;

– Phương thức đào tạo;

– Thời gian và địa điểm đào tạo;

– Kết quả xác minh;

– Căn cứ pháp lý và căn cứ chuyên môn;

– Kết luận đánh giá;

– Người thực hiện;

– Người phê duyệt;

– Thời điểm đánh giá.

Mục tiêu: Mọi kết quả đánh giá văn bằng đều phải có khả năng truy nguyên, kiểm chứng và giải trình.

5. Xây dựng cơ sở dữ liệu văn bằng nước ngoài của NEU

Cơ sở dữ liệu dùng chung nên có tối thiểu:

– Họ tên;

– Ngày sinh;

– Cơ sở cấp bằng;

– Cơ sở thực hiện đào tạo;

– Hình thức đào tạo;

– Trình độ theo hệ thống giáo dục nước cấp bằng;

– Trình độ được xác định;

Căn cứ đánh giá;

– Kết quả;

– Thời điểm đánh giá.

Về dài hạn, hướng tới xây dựng “Hồ sơ văn bằng số” của người học, viên chức và người lao động.

6. Chuẩn hóa quy trình đối với văn bằng dùng để tuyển sinh

Xây dựng bộ kiểm tra riêng đối với văn bằng nước ngoài sử dụng trong tuyển sinh, nhất là đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ.

Không để mỗi đơn vị đào tạo tự xác định tiêu chí và cách thức xử lý khác nhau.

Cần bảo đảm nguyên tắc: Một tiêu chuẩn – một quy trình – một đầu mối chuyên môn – một cơ sở dữ liệu – một cơ chế kiểm soát.

7. Xây dựng quy trình thẩm định chuyên sâu đối với bằng tiến sĩ nước ngoài

Cần kiểm tra:

– Cơ sở cấp bằng;

– Cơ sở thực hiện đào tạo;

– Chương trình;

– Hình thức đào tạo;

– Thời gian học tập;

– Thời gian học tập, nghiên cứu trực tiếp;

– Người hướng dẫn;

– Hội đồng học thuật;

– Luận án;

– Chuẩn đầu ra;

– Kết quả nghiên cứu;

– Minh chứng xác thực.

Đặc biệt chú ý yêu cầu tối thiểu 12 tháng học tập, nghiên cứu trực tiếp trong trường hợp thuộc diện áp dụng.

8. Rà soát toàn bộ chương trình hợp tác, liên kết quốc tế

Lập danh mục các chương trình có yếu tố văn bằng nước ngoài và rà soát:

– Quyết định phê duyệt;

– Gia hạn, điều chỉnh;

– Đề án/thỏa thuận;

– Chương trình;

– Địa điểm đào tạo;

– Tuyển sinh;

– Thời lượng;

– Danh sách người học;

– Danh sách tốt nghiệp;

– Hồ sơ pháp lý của đối tác.

Mục tiêu: Bảo đảm tính hợp pháp của văn bằng ngay từ nguồn gốc của quá trình đào tạo.

9. Thiết lập cơ chế xác minh văn bằng

Ưu tiên các nguồn theo thứ tự: Cơ quan quản lý giáo dục nước ngoài → tổ chức kiểm định có thẩm quyền → cơ sở cấp bằng → cơ sở thực hiện đào tạo → cơ sở dữ liệu chính thức → hệ thống xác thực điện tử.

Không sử dụng website thương mại, diễn đàn, mạng xã hội hoặc nguồn thông tin không chính thức làm căn cứ duy nhất để kết luận về tính hợp pháp hoặc xác thực của văn bằng.

10. Tổ chức tập huấn, phổ biến Thông tư

Nội dung tập huấn cần tập trung vào:

– Điểm mới của Thông tư 65;

– Phân biệt “công nhận” và “đánh giá nội bộ”;

– Điều kiện công nhận;

– Văn bằng trực tuyến;

– Văn bằng liên kết;

– Văn bằng nước thứ ba;

– Bằng tiến sĩ;

– Miễn thủ tục;

– Xác thực điện tử;

– VNeID;

– Quản lý hồ sơ;

– Trách nhiệm giải trình và hậu kiểm.

11. Thiết lập cơ chế báo cáo hằng năm

NEU cần thiết kế hệ thống dữ liệu ngay từ thời điểm đánh giá để bảo đảm khả năng tổng hợp và thực hiện báo cáo Bộ GDĐT trước ngày 31/01 hằng năm.

Không nên chờ đến cuối năm mới bắt đầu thống kê.

12. Rà soát toàn bộ văn bản nội bộ có liên quan

Cần rà soát, cập nhật các quy định về:

– Tuyển sinh;

– Đào tạo đại học;

– Đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ;

– Tuyển dụng;

– Quản lý viên chức, người lao động;

– Văn bằng, chứng chỉ;

– Công nhận kết quả học tập;

– Liên kết đào tạo quốc tế;

– Kiểm tra hồ sơ;

– Các biểu mẫu liên quan.

Mục tiêu là bảo đảm toàn bộ hệ thống quy định nội bộ thống nhất và tương thích với Thông tư 65.

V. NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỂ THỰC HIỆN THÔNG TƯ 65

1. Kiến nghị với Ban Giám đốc

Kiến nghị 1. Ban hành văn bản chỉ đạo triển khai Thông tư 65

Ban Giám đốc ban hành văn bản chỉ đạo toàn Đại học về: Tổ chức rà soát, quán triệt và triển khai thực hiện Thông tư số 65/2026/TT-BGDĐT.

Kiến nghị 2. Xây dựng Quy trình đánh giá văn bằng nước ngoài thống nhất toàn NEU

Bảo đảm nguyên tắc: Một quy định – một tiêu chuẩn – một quy trình – một cơ sở dữ liệu – một cơ chế báo cáo.

Kiến nghị 3. Phân định rõ thẩm quyền công nhận và đánh giá nội bộ

Quán triệt thống nhất: NEU không thay thế thẩm quyền công nhận văn bằng của cơ quan nhà nước; NEU thực hiện đánh giá văn bằng để sử dụng trong hoạt động đào tạo nội bộ theo Điều 7 và chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá.

Kiến nghị 4. Xây dựng cơ chế quản trị rủi ro văn bằng

Đưa văn bằng nước ngoài vào nhóm đối tượng rủi ro tuân thủ trong hệ thống kiểm soát nội bộ: Bản đồ rủi ro → tiêu chí cảnh báo → xác minh → quyết định → hậu kiểm.

Kiến nghị 5. Tích hợp quản lý văn bằng với chuyển đổi số

Về dài hạn, kết nối: Hồ sơ người học → hồ sơ văn bằng → xác thực điện tử → cơ sở dữ liệu → các hệ thống dữ liệu quốc gia khi đủ điều kiện.

Kiến nghị 6. Bố trí nguồn lực thực hiện

Bảo đảm nhân lực chuyên môn, kinh phí và hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ xác minh, đánh giá, lưu trữ, quản lý và khai thác dữ liệu văn bằng nước ngoài.

2. Kiến nghị với các đơn vị chức năng

Thứ nhất, rà soát toàn bộ quy định, quy trình và biểu mẫu

Bảo đảm tương thích với Thông tư 65 về: Điều kiện – hồ sơ – thẩm quyền – xác minh – lưu trữ – trách nhiệm – báo cáo.

Thứ hai, thiết lập một đầu mối chuyên môn và cơ chế phối hợp

Không nên phân tán hoàn toàn việc đánh giá cho từng đơn vị; cần có đầu mối chuyên môn thống nhất, đồng thời thiết lập cơ chế phối hợp giữa đào tạo, tuyển sinh, tuyển dụng, pháp chế, hợp tác quốc tế và công nghệ thông tin.

Thứ ba, xây dựng danh mục nguồn xác minh chính thức

Hình thành “Danh mục nguồn thông tin chính thức phục vụ xác minh văn bằng nước ngoài”, được cập nhật thường xuyên.

Thứ tư, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung

Bảo đảm dữ liệu có khả năng: Tra cứu – theo dõi – thống kê – báo cáo – kiểm tra lịch sử – phục vụ thanh tra, kiểm tra và hậu kiểm.

Thứ năm, thiết kế cơ chế hậu kiểm

Đánh giá văn bằng không kết thúc tại thời điểm ban hành kết quả.

Cần có khả năng: Xác minh lại → cập nhật → điều chỉnh → xử lý kết quả sử dụng nội bộ khi phát hiện thông tin sai lệch.

Thứ sáu, rà soát hồ sơ nhân sự và người học có văn bằng nước ngoài

Thực hiện theo nguyên tắc: Không máy móc yêu cầu bổ sung giấy tờ; ưu tiên khai thác dữ liệu điện tử, xác thực trực tiếp và nguồn thông tin chính thức.

3. Kiến nghị với các đơn vị đào tạo

Thứ nhất, phổ biến Thông tư 65

Tổ chức phổ biến đến giảng viên, người lao động, sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh thuộc đơn vị.

Thứ hai, kiểm soát văn bằng nước ngoài khi tuyển sinh

Không mặc nhiên coi văn bằng nước ngoài là tương đương văn bằng Việt Nam.

Cần xem xét: Trình độ – cơ sở cấp bằng – cơ sở đào tạo – phương thức – thời lượng – địa điểm – ngành/chuyên ngành – tính xác thực – mục đích sử dụng.

Thứ ba, phân loại đúng trường hợp người học chưa có Giấy công nhận

Xác định rõ:

– Thuộc diện phải thực hiện thủ tục công nhận;

– Thuộc diện được miễn;

– Hay thuộc phạm vi NEU có thể tự đánh giá để sử dụng trong hoạt động đào tạo nội bộ.

Thứ tư, tăng cường kiểm soát bằng tiến sĩ nước ngoài

Đặc biệt chú ý: Đào tạo trực tuyến – đào tạo tại nước thứ ba – công nhận kết quả nghiên cứu – địa điểm đào tạo khác cơ sở cấp bằng – thời gian học tập, nghiên cứu trực tiếp.

Thứ năm, quản lý hồ sơ chương trình liên kết

Chủ động lưu giữ các minh chứng về: Địa điểm học tập – thời lượng – chương trình – đối tác – cơ sở cấp bằng – tình trạng pháp lý – dữ liệu xác thực.

Thứ sáu, không yêu cầu người học cung cấp giấy tờ một cách máy móc

Ưu tiên: Xác thực trực tiếp → dữ liệu điện tử → cơ sở dữ liệu chính thức → hồ sơ giấy khi thực sự cần thiết.

KẾT LUẬN

Thông tư số 65/2026/TT-BGDĐT đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong quản lý văn bằng nước ngoài tại Việt Nam theo hướng hiện đại hóa thủ tục hành chính, tăng cường chuyển đổi số, mở rộng tự chủ, nâng cao trách nhiệm giải trình và chuyển sang quản trị dựa trên dữ liệu.

Có thể khái quát tinh thần của Thông tư qua 05 chuyển dịch lớn:

Từ “xác nhận tờ văn bằng” → sang “xác định trình độ và giá trị sử dụng”;

Từ “tiền kiểm hồ sơ” → sang “xác thực, quản trị dữ liệu và hậu kiểm”;

Từ “hồ sơ giấy” → sang “hồ sơ số và xác thực điện tử”;

Từ “công nhận tập trung” → sang “kết hợp công nhận của nhà nước và tự chủ đánh giá của cơ sở giáo dục đại học”;

Từ “quản lý từng văn bằng” → sang “quản trị rủi ro và dữ liệu văn bằng”.

Đối với Đại học Kinh tế Quốc dân, vấn đề có ý nghĩa pháp lý và quản trị quan trọng nhất là phải phân định tuyệt đối giữa “công nhận văn bằng” của cơ quan nhà nước và “đánh giá văn bằng để sử dụng trong hoạt động đào tạo nội bộ” của cơ sở giáo dục đại học.

NEU không thay thế thẩm quyền công nhận văn bằng của cơ quan nhà nước. Quyền tự chủ đánh giá theo Điều 7 phải được thực hiện trên cơ sở:

Có tiêu chí → có quy trình → có căn cứ → có hồ sơ → có người chịu trách nhiệm → có lưu vết → có khả năng kiểm chứng → có hậu kiểm.

Vì vậy, định hướng phù hợp đối với NEU không chỉ là “thực hiện Thông tư 65”, mà cần tiến tới xây dựng một:

Hệ thống quản trị văn bằng nước ngoài của NEU

gồm 06 cấu phần liên kết: (1) Quy định nội bộ  → (2) Bộ tiêu chí đánh giá  → (3) Quy trình xác minh  → (4) Cơ sở dữ liệu văn bằng → (5) Phân loại và quản trị rủi ro → (6) Hậu kiểm, báo cáo và cải tiến.

Đây không chỉ là giải pháp bảo đảm tuân thủ Thông tư 65, mà còn là cơ hội để NEU hình thành một cơ chế quản trị văn bằng hiện đại, minh bạch, có khả năng truy nguyên – kiểm chứng – giải trình – hậu kiểm, đồng thời hỗ trợ trực tiếp cho:

Tự chủ đại học; quản trị nhân lực; tuyển sinh; đào tạo sau đại học; hợp tác quốc tế; bảo đảm chất lượng; chuyển đổi số và kiểm soát rủi ro pháp lý.

Thông tư 65 có hiệu lực từ ngày 26/9/2026 theo nội dung tóm tắt được cung cấp. Do đó, NEU cần hoàn thành việc rà soát, chuẩn hóa quy trình, biểu mẫu, tiêu chí và phân công đầu mối trước thời điểm Thông tư có hiệu lực, đồng thời rà soát riêng các hồ sơ đã tiếp nhận trước thời điểm này để áp dụng đúng quy định chuyển tiếp.

Thông điệp triển khai cốt lõi đối với NEU

Không chỉ kiểm tra “bằng thật hay bằng giả”; phải xác định “bằng được cấp hợp pháp như thế nào, ở trình độ nào, từ quá trình đào tạo nào và được sử dụng cho mục đích gì”.

Không chỉ “công nhận văn bằng”; phải quản trị toàn bộ vòng đời pháp lý của văn bằng.

Không chỉ “tự chủ đánh giá”; phải tự chủ trên nền tảng bằng chứng, trách nhiệm giải trình và khả năng hậu kiểm./.